Giải bài toán xử lý rác thải sinh hoạt ở vùng khó
luuphu | 03/07/2026
Quảng Ninh đang nỗ lực hướng tới mục tiêu mọi chất thải sinh hoạt được
thu gom, xử lý đạt quy chuẩn môi trường. Nhưng ở những vùng sâu, vùng xa, hải
đảo – nơi giao thông cách trở, hạ tầng thiếu đồng bộ, lượng rác phát sinh ít
nhưng phân tán khiến bài toán xử lý rác thải sinh hoạt vẫn còn nhiều “ẩn số”.
Từ thực tế đó, yêu cầu về những mô hình xử lý phù hợp, linh hoạt và bền vững
đang trở thành vấn đề cấp thiết, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của các ngành, địa
phương.
Gánh nặng rác thải sinh hoạt ở vùng đặc khu biển đảo
Quan Lạn (đặc khu Vân Đồn) là đảo có mật độ dân cư cao và phát triển
mạnh về du lịch. Mỗi mùa du lịch, lượng khách tăng đột biến khiến rác thải sinh
hoạt phát sinh ngày càng lớn, gây áp lực không nhỏ cho công tác thu gom, xử lý.
Trên đảo hiện chỉ có 1 lò đốt rác ở thôn Sơn Hào – công trình duy nhất đảm
nhiệm việc xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn.
Lò đốt này được Công ty Môi trường đô thị Vân Đồn tiếp quản, vận hành từ
năm 2016 với công suất thiết kế 500kg/giờ. Sau gần 10 năm sử dụng, công trình
đã cũ, xuống cấp, hiệu suất giảm rõ rệt. Trong khi lượng rác phát sinh trung
bình trên đảo, nhất là vào mùa cao điểm du lịch luôn tăng mạnh, vượt xa năng
lực thiết kế của lò.
Chị Nguyễn Thị Thi, công nhân trực tiếp làm việc tại lò chia sẻ: “Vào
mùa du lịch, lượng rác thải phát sinh tăng nhanh, gấp nhiều lần ngày thường.
Rác từ các nhà hàng, khu lưu trú, bến tàu đưa về liên tục, khiến việc thu gom
và xử lý gặp nhiều khó khăn. Để kịp tiến độ, công nhân phải tăng ca, vận hành
lò liên tục, nhưng vẫn thường xuyên xảy ra tình trạng tồn rác tạm thời”.
Theo ông Nguyễn Công Trấn, Phó Giám đốc Công ty Môi trường đô thị Vân
Đồn, lò đốt Sơn Hào hiện chỉ đáp ứng được một phần nhỏ lượng rác phát sinh trên
địa bàn. “Công suất của lò quá thấp so với thực tế những tháng lượng rác thải
phát sinh đột biến. Nhiều thiết bị đã cũ, cần được thay thế hoặc nâng cấp.
Thiết nghĩ cần thiết nâng cấp lò cũ hoặc đầu tư lò để nâng cao hiệu quả công
tác xử lý rác thải sinh hoạt trên đảo Quan Lạn”- ông nói.
Ngoài đảo Quan Lạn, các đảo Minh Châu, Ngọc Vừng, Bản Sen, Thắng Lợi…
hiện vẫn chưa có cơ sở xử lý tập trung. Việc thu gom và xử lý chủ yếu do các
địa phương tự tổ chức, mang tính tạm thời, phần lớn theo hình thức đốt hoặc
chôn lấp. Do thiếu mặt bằng và thiết bị chuyên dụng, hiệu quả xử lý không cao,
nguy cơ ô nhiễm môi trường tiềm ẩn. Nhiều khu dân cư, bến cảng và điểm du lịch
phát sinh lượng rác lớn nhưng thiếu điểm tập kết, chưa đáp ứng quy chuẩn kỹ
thuật.
Tại các khu vực trung tâm đặc khu Vân Đồn, rác thải sinh hoạt hiện được
xử lý chủ yếu tại hai khu xử lý Đài Làng và Cầu Cao (xã Đông Xá cũ). Tuy nhiên,
cả hai khu đều được xây dựng đã lâu, diện tích hạn chế, công nghệ xử lý chủ yếu
theo hình thức đốt, chưa có hệ thống xử lý nước rỉ rác và khí thải đồng bộ.
Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, hai khu này chỉ mang tính tạm thời, chưa
đáp ứng được yêu cầu xử lý lâu dài khi lượng rác toàn đặc khu tăng nhanh.
Trong khi đó, các dự án đầu tư khu xử lý chất thải rắn được quy hoạch từ
nhiều năm vẫn chưa thể triển khai. Một số dự án tại xã Hạ Long, Đông Xá (cũ)
đang trong giai đoạn rà soát thủ tục, chưa lựa chọn được nhà đầu tư có năng
lực; dự án tại Vạn Yên tạm dừng do vướng quy hoạch; dự án khu xử lý tại khu vực
Quan Lạn - Minh Châu mới dừng ở bước khảo sát vị trí. Việc chậm tiến độ các dự
án khiến phải duy trì hình thức xử lý tạm, dựa vào các lò quy mô nhỏ hoặc khu
tập kết rác ngắn hạn.
Theo báo cáo của đặc khu Vân Đồn, khối lượng rác sinh hoạt phát sinh
trung bình mỗi ngày, hiện tăng nhanh theo tốc độ phát triển du lịch, đặc biệt
tại các đảo và khu vực trung tâm. Công ty Môi trường đô thị Vân Đồn chỉ có thể
đảm nhận thu gom thường xuyên tại một số khu vực chính, phần còn lại do các xã
tự bố trí lực lượng hoặc thuê khoán. Điều này dẫn tới tình trạng thiếu đồng bộ
trong quản lý, rác không được thu gom triệt để, đặc biệt ở vùng xa và khu du
lịch nhỏ lẻ.
Trước thực trạng đó, đặc khu Vân Đồn đã đề xuất tỉnh cho phép duy trì
hoạt động khu xử lý rác tạm tại xã Đông Xá (cũ) - nơi hiện đang tiếp nhận và xử
lý phần lớn lượng rác của khu trung tâm đặc khu. Đây được xem là giải pháp cần
thiết trong giai đoạn chuyển tiếp, giúp duy trì vệ sinh môi trường, hạn chế
tình trạng rác tồn đọng trong khi các dự án xử lý tập trung vẫn đang hoàn thiện
thủ tục đầu tư.
Bên cạnh đó, đặc khu đã phối hợp với các sở, ngành của tỉnh rà soát lại
toàn bộ quy hoạch xử lý rác thải, xác định quy mô và vị trí đầu tư mới. Hướng
được đưa ra là đầu tư phân vùng; theo đó các khu vực phát sinh rác lớn như Quan
Lạn, Minh Châu sẽ được ưu tiên lò công suất cao, còn các xã nhỏ áp dụng mô hình
xử lý tại chỗ để tiết kiệm chi phí vận hành.
Ông Ngô Quốc Vượng, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Môi trường đặc khu Vân
Đồn, cho biết: “Địa phương đang kiến nghị tỉnh hỗ trợ nguồn lực và cơ chế để
đẩy nhanh các dự án xử lý tập trung. Cùng với đó, đặc khu cũng đẩy mạnh tuyên
truyền, vận động người dân và cơ sở du lịch phân loại, giảm thiểu rác ngay từ
nguồn phát sinh, nhằm giảm tải cho khâu xử lý".
Ngoài những khó khăn về hạ tầng, địa phương cũng gặp vướng mắc trong
nguồn nhân lực và kinh phí vận hành. Do đặc thù địa hình, chi phí thu gom, vận
chuyển rác ở các đảo cao gấp nhiều lần so với khu vực đất liền trong khi mức hỗ
trợ từ ngân sách còn hạn chế. Lực lượng lao động làm công tác vệ sinh môi
trường ít, điều kiện làm việc vất vả, chủ yếu thủ công.
Thực tế cho thấy, công tác xử lý rác thải sinh hoạt ở vùng đảo vẫn đang
phải vận hành trong điều kiện thiếu thốn, tạm thời và chịu nhiều áp lực. Việc
duy trì các cơ sở xử lý quy mô nhỏ chỉ giúp khắc phục phần nào tình trạng quá
tải trong khi nhu cầu đầu tư đồng bộ, công nghệ hiện đại và nguồn lực ổn định
là yêu cầu cấp thiết.
Những khó khăn đó không chỉ dừng ở một địa phương, mà còn phản ánh tình
trạng chung của nhiều khu vực trong tỉnh. Từ vùng đảo xa đến miền núi, đô thị
hay nông thôn, câu chuyện về rác thải sinh hoạt vẫn đang đặt ra yêu cầu bức
thiết về quy hoạch, hạ tầng và mô hình quản lý phù hợp. Đây cũng là bài toán mà
Quảng Ninh đang tìm lời giải, với mục tiêu đảm bảo phát triển bền vững và giữ
vững môi trường sống cho người dân.
Hướng tới mô hình xử lý rác bền vững
Câu chuyện xử lý rác thải sinh hoạt hiện là thách thức chung trên phạm
vi toàn tỉnh. Với địa bàn rộng, điều kiện địa hình phức tạp, nhiều khu vực miền
núi, hải đảo và dân cư thưa, việc thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt
trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn, chưa đồng bộ giữa các vùng.
Theo thống kê của cơ quan chức năng, toàn tỉnh hiện phát sinh khoảng
1.300 tấn rác thải sinh hoạt mỗi ngày, trong đó khu vực đô thị chiếm tỷ trọng
lớn. Hầu hết lượng rác này được thu gom và xử lý tại các khu xử lý tập trung
của địa phương song năng lực xử lý chưa đồng đều, còn chênh lệch rõ giữa khu
vực trung tâm và vùng sâu, vùng xa.
Hiện Quảng Ninh có 16 khu xử lý chất thải sinh hoạt, trong đó 12 khu
đang hoạt động, tập trung chủ yếu tại các địa phương như Hạ Long, Cẩm Phả,
Quảng Yên, Uông Bí, Đông Triều, Tiên Yên và Vân Đồn. Các khu xử lý cơ bản đáp
ứng được nhu cầu thu gom của khu vực trung tâm, song vẫn còn tình trạng công
nghệ lạc hậu, thiếu hạng mục xử lý khí thải, nước rỉ rác. Một số khu có quy mô
nhỏ, hoạt động tạm thời, chưa đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật về môi trường.
Đối với các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo, công tác thu
gom, xử lý rác thải sinh hoạt còn nhiều hạn chế. Hệ thống thu gom chưa phủ kín;
một số xã chưa có điểm xử lý tập trung, việc vận chuyển rác đến khu xử lý gặp
khó khăn do quãng đường xa, chi phí cao. Ở nhiều nơi, địa phương vẫn phải tổ
chức xử lý tạm bằng hình thức chôn lấp, đốt hoặc tập kết cục bộ. Báo cáo của
các địa phương vùng khó cho thấy, khối lượng rác phát sinh tuy không lớn nhưng
phân tán, việc tổ chức thu gom không thường xuyên, dẫn tới hiệu quả xử lý chưa
cao.
Theo Thông báo kết luận của UBND tỉnh ngày 12/8/2025 cho thấy, công tác
quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn còn tồn tại một số hạn chế. Hệ
thống cơ sở xử lý chưa đồng bộ; có nơi thiếu quy hoạch, có nơi dự án chậm tiến
độ. Hoạt động của một số khu tạm, lò đốt nhỏ lẻ không còn phù hợp yêu cầu kỹ
thuật. Việc phối hợp giữa các sở, ngành và địa phương trong triển khai nhiệm vụ
còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến hiệu quả chưa cao.
Từ thực trạng đó, tỉnh đã thống nhất định hướng phân vùng xử lý chất
thải rắn sinh hoạt toàn tỉnh, làm cơ sở để triển khai các dự án đầu tư mới phù
hợp với điều kiện từng khu vực. Theo phương án này, tỉnh chia thành ba vùng xử
lý chính, gồm vùng Đông (gồm Móng Cái, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên, Vân Đồn), vùng
Trung tâm (gồm Hạ Long, Cẩm Phả, Quảng Yên) và vùng Tây (gồm Uông Bí, Đông
Triều, Ba Chẽ, Bình Liêu, Hoành Bồ). Mỗi vùng sẽ có một khu xử lý chất thải rắn
tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ tiên tiến, có khả năng tiếp nhận, xử
lý cho cả các địa phương lân cận.
Trong thời gian chờ các dự án quy hoạch mới hoàn thành, tỉnh cho phép
duy trì hoạt động tạm thời các khu xử lý hiện có, đồng thời yêu cầu các địa
phương rà soát, nâng cấp, bổ sung các hạng mục xử lý khí thải, nước rỉ rác, đảm
bảo vệ sinh môi trường. Những khu không đáp ứng yêu cầu sẽ được dừng hoạt động,
phục hồi mặt bằng.
Đối với vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảo, tỉnh chủ trương áp dụng
mô hình xử lý rác quy mô nhỏ tại chỗ, phù hợp với điều kiện địa hình và đặc thù
dân cư. Các địa phương chủ động xây dựng phương án thu gom, vận chuyển, xử lý
rác phù hợp, khuyến khích hình thành điểm tập kết tạm thời tại cụm dân cư, tổ
chức thu gom định kỳ, đảm bảo vệ sinh môi trường. Tỉnh cũng đang xem xét cơ chế
hỗ trợ kinh phí mua sắm phương tiện thu gom chuyên dụng, lò đốt công suất nhỏ
và thiết bị bảo hộ cho lực lượng làm công tác vệ sinh môi trường ở vùng khó
khăn.
Cùng với giải pháp về hạ tầng, tỉnh cũng đặc biệt quan tâm đến việc hoàn
thiện cơ chế, chính sách quản lý rác thải sinh hoạt. UBND tỉnh đã giao Sở Xây
dựng phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường xây dựng Đề án quản lý chất thải
rắn sinh hoạt giai đoạn 2025-2030, làm căn cứ triển khai đồng bộ từ cấp tỉnh
đến cơ sở. Trong đó, chú trọng phân định rõ trách nhiệm giữa chính quyền cấp
huyện, xã với đơn vị thu gom, xử lý; tăng cường kiểm tra, giám sát và công khai
chi phí vận hành, dịch vụ xử lý.
Đáng chú ý, tỉnh yêu cầu đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực xử lý rác
thải sinh hoạt, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ xử lý hiện đại, tái
chế, tái sử dụng rác thải. Những dự án được triển khai theo hình thức đối tác
công - tư (PPP) hoặc hợp đồng dịch vụ công ích dài hạn sẽ được xem xét hỗ trợ
một phần chi phí vận hành, nhất là tại các khu vực vùng sâu, vùng xa, dân cư
thưa, khả năng thu phí thấp.
Song song với việc đầu tư hạ tầng, Quảng Ninh tiếp tục tăng cường công
tác tuyên truyền, vận động người dân thay đổi nhận thức và thói quen trong thu
gom, xử lý rác. Các địa phương được giao đẩy mạnh phong trào phân loại rác tại
nguồn, khuyến khích giảm thiểu rác thải nhựa, tăng tỷ lệ tái sử dụng, tái chế.
Một số mô hình như “Tuyến phố xanh – sạch – đẹp”, “Thôn không rác”, “Ngày thứ
bảy xanh” đã được triển khai và đang dần nhân rộng.
Cũng trong kết luận tháng 8/2025, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành liên
quan đề xuất cơ chế hỗ trợ vùng khó khăn, đặc biệt là miền núi, biên giới và
hải đảo, nhằm bảo đảm duy trì hoạt động thu gom, xử lý rác ổn định, tránh phát
sinh điểm nóng về môi trường. Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, tỉnh
xác định phải hoàn thành trước năm 2026.
Công tác xử lý rác thải sinh hoạt ở Quảng Ninh hướng tới là bền vững,
từng bước hình thành mạng lưới xử lý đồng bộ, kết hợp hài hòa giữa hạ tầng tập
trung và mô hình xử lý tại chỗ. Những giải pháp được đưa ra cho thấy quyết tâm
của tỉnh trong việc giải bài toán tồn tại nhiều năm, hướng tới mục tiêu vừa bảo
vệ môi trường, vừa phù hợp khả năng đầu tư và đặc thù phát triển của từng vùng,
miền.
Hoàng Anh
https://baoquangninh.vn/